Ngôn Từ – Jean Paul Sartre
“Văn hóa chẳng cứu vớt được gì cũng chẳng cứu vớt được ai, nó không bào chữa được. Nhưng đó là một sản phẩm của con người: con người tự chiếu mình vào đó, nhận ra mình trong đó; duy nhất chỉ có nó, tấm gương phê phán ấy cho con người thấy hình ảnh của mình.”
Ngôn Từ là một tự truyện không có những hoài niệm, dẫu ngậm ngùi cay đắng hay cảm động ngọt ngào. Sartre không hoài niệm, ông mổ xẻ, phân tích, giải mã tuổi thơ của mình bằng con mắt sắc sảo, tỉnh táo và đầy trải nghiệm của một nhà văn đứng tuổi, đứng tách hẳn khỏi cậu bé “ngông cuồng” là chính mình ngày xưa – để đi tìm câu trả lời cho một câu hỏi lớn: Điều gì đã thúc đẩy ông đến với nghiệp văn chương? Sự phân tích, đánh giá rất “lạnh lùng” ấy đã đem lại sắc thái đặc biệt cho NGÔN TỪ: một giọng điệu nổi bật là hài hước, mỉa mai, chế nhạo (chủ yếu là tự chế nhạo), xen lẫn với những suy tư triết học vừa chặt chẽ logic vừa phức tạp rắm rối nhưng đầy cuốn hút, câu chuyện về tuổi thơ của Sartre trở nên giống một tác phẩm châm biếm, một tiểu thuyết triết lý, hơn là một tự truyện.
“Văn hóa chẳng cứu vớt được gì cũng chẳng cứu vớt được ai, nó không bào chữa được. Nhưng đó là một sản phẩm của con người: con người tự chiếu mình vào đó, nhận ra mình trong đó; duy nhất chỉ có nó, tấm gương phê phán ấy cho con người thấy hình ảnh của mình.” – Ngôn từ, Jean-Paul Sartre
“Ngôn từ được viết bằng một văn phong sắc sảo, châm biếm, chính xác và không có lấy một chút thống thiết giả tạo. – La Croix
“Với Ngôn từ, Sartre đã kết hợp thành công tiểu thuyết với tự truyện và khiến tác phẩm trở thành một trong những cuốn sách khó đọc bán chạy nhất thế giới.” – Le magazine littéraire
Sau khi tốt nghiệp École normale supérieure, Jean-Paul Sartre (1905-1980) lấy bằng thạc sĩ triết học vào năm 1929. Đây cũng chính là thời kỳ ông quen Simone de Beauvoir – triết gia, nhà văn nổi tiếng nước Pháp, người đã nhìn thấy ở Sartre một “bản sao đáp lại những mơ ước của mình thời niên thiếu” nhưng nhanh chóng thừa nhận bản sao này hơn mình cả cái đầu, người đã không chịu hy sinh dù một mẩu tự do của bản thân để chấp nhận lời cầu hôn của Sartre nhưng lại bất chấp mọi sóng gió, dan díu, ghen tuông và can gián bạn bè để đi với Sartre đến tận những ngày cuối đời ông.
Trở về từ Thế Chiến II, Sartre từ bỏ con người cá nhân chủ nghĩa mà ông từng là vào những năm 1930s. Trong chiến tranh, ông viết tiểu luận đầu tay sau này trở thành tác phẩm quan trọng nhất của ông và cũng là tác phẩm trọn vẹn nhất về triết học hiện sinh, Tồn tại và hư vô, trong đó, ông tái tạo bản thể học và siêu hình học dựa trên những nghiên cứu về hiện tượng học của Husserl và triết học của Heidegger.
Những năm sau giải phóng, Jean-Paul Sartre trở thành cái tên nổi tiếng khắp giới trí thức Pháp, ông được coi như thủ lĩnh của phong trào hiện sinh đang là “mốt” lúc bấy giờ. Trong tạp chí Les temps modernes mà ông sáng lập năm 1945, ông đề cao sự dấn thân như một “mục đích tự thân”.
Jean-Paul Sartre luôn giữ niềm tin vào xã hội chủ nghĩa, phản đối giai cấp tiểu tư sản, chống Mỹ, chống chủ nghĩa tư bản và đặc biệt, bài trừ chủ nghĩa đế quốc. Đến tận cuối đời, ông vẫn tiếp tục đấu tranh phản đối chiến tranh Algeria, phản đối tội ác của Mỹ ở Việt Nam, ủng hộ các thuyền nhân và người ly khai Xô Viết… Năm 1964, ông từ chối nhận giải Nobel Văn học bởi với ông “không người nào xứng đáng được thừa nhận khi còn sống”.
Một số tác phẩm quan trọng của Jean-Paul Sartre:
– Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản
– Buồn nôn (1938)
– Bức tường (1939)
– Tồn tại và hư vô (1943)
– Ruồi (1943)
– Xử kín (1944)
– Tay bẩn (1948)
– Ác quỷ và Chúa Lòng lành (1951)
– Ngôn từ (1964)





